TRUNG TÂM DỊCH VỤ
(84.4) 3773 7065
(84.8) 6255 5689

EMAIL
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thứ hai, 10/6/2013, 11:56

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có xu hướng đi lên

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) đang bắt đầu có xu hướng đi lên dù trong quá trình đi lên vẫn còn biến động, song đã thoát khỏi hướng đi xuống như vài năm gần đây. Tất cả là nhờ những thông tin hỗ trợ thị trường từ nền kinh tế vĩ mô, điển hình là động thái giảm lãi suất để phá băng tín dụng, duy trì tỷ giá hối đoái ổn định và việc quản lý thị trường vàng của Ngân hàng Nhà nước.

Đây là nhận định của TS. Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia tại hội thảo "Nợ xấu, lãi suất và tác động đối với TTCK Việt Nam" diễn ra ngày 7/6.

Động lực cho Thị trường chứng khoán 

Theo TS. Nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đang bắt đầu đi lên từ đáy với hàng loạt tín hiệu từ thị trường như chỉ số quản lý mua hàng PMI và chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đang đi lên và dự báo, xu hướng đi lên vẫn là chủ đạo trong các tháng tới. Đặc biệt, nhập siêu 5 tháng của Việt Nam đã lên đến 1,9 tỷ USD, trong đó, nhập siêu của riêng tháng 5 đã là 1,2 tỷ USD, cho thấy cầu tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã có dấu hiệu được cải thiện. Thực tế mức nhập siêu trung bình trong giai đoạn tăng trưởng GDP đạt 7% là 1,4 tỷ USD. Như vậy, đây được cho là mức nhập siêu lý tưởng cho nền kinh tế tăng trưởng.

Tuy vậy, một điều đang đe dọa nền kinh tế Việt Nam là lạm phát quay trở lại. Song theo một nghiên cứu của Đại học Havard thì lạm phát sẽ không thể quay trở lại trong năm 2013 mà nguyên nhân được lý giải là do tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã cận kề suy thoái, vì vậy, cầu thực và cầu kỳ vọng đang rất yếu. Ngay cả sắp tới đây, khi Chính phủ bơm tiền mạnh hơn nữa thì cũng khó tạo hiệu ứng lạm phát trong ngắn hạn mà chỉ có thể đưa lạm phát trở lại vào cuối năm sau. Tuy nhiên, thời gian đó đủ dài để Ngân hàng Nhà nước kịp thời hút tiền về. Có thể nói, lạm phát không phải là vấn đề đáng lo ngại.

Còn theo quan điểm của TS Nghĩa, lãi suất đến cuối năm có xu hướng sẽ giảm tiếp song “giỏi lắm” chỉ giảm 0,5% do NHNN “sợ” lạm phát. Tuy vậy, lạm phát của Việt Nam đang có dấu hiệu dò đáy, nhờ đó, lượng cầu và lượng cung hiện tại và giá cả đang ở mức cân bằng. Trong thời gian dài, khi cầu sụt giảm mạnh, kéo theo cung sụt giảm, như vậy, sẽ thiết lập một mặt bằng giá mới và trạng thái dò đáy này dự báo sẽ kéo dài đến tháng 8 năm nay, sau đó, có thể từ tháng 9 trở đi, giá cả sẽ tăng dần lên. Động thái này được Havard đánh giá là dấu hiệu tốt, giúp kích thích sản xuất, đồng thời đẩy tổng cầu tăng trở lại.

Báo cáo kinh tế vĩ mô của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ngày 6/6 cũng cho thấy, hàng loạt các chính sách của Chính phủ trong thời gian qua đã có tác dụng tích cực hỗ trợ cho thị trường tài chính. Cụ thể, lãi suất huy động tiếp tục được duy trì ổn định, lãi suất cho vay của các NHTM giảm từ 2-3% xuống mức 8-10%/ năm cho kỳ hạn ngắn và 11-12%/năm cho kỳ hạn dài. Trong khi đó, lãi suất trúng thầu trái phiếu và tín phiếu tiếp tục giảm mạnh. Mức lãi suất này được kỳ vọng sẽ tiếp tục ổn định trong tháng 6 và giảm nhẹ xuống 7% vào cuối năm 2013 nếu lạm phát tiếp tục duy trì ở mức thấp. Đặc biệt, gói hỗ trợ tín dụng BĐS trị giá 30.000 tỷ đồng được chính thức đưa ra với gói lãi suất thấp 6%, đồng thời, sự ra đời của Công ty Quản lý tài sản (VAMC) với số vốn điều lệ 500 tỷ đồng… là những thông tin tích cực có tác dụng “mồi” dòng chảy của tiền tệ, chống đóng băng tín dụng.

Theo ông Tống Minh Tuấn - Trưởng phòng Phân tích VCBS, tăng trưởng tín dụng đến hết tháng 6 có thể đạt 3% và từ nay đến cuối năm có thể tăng dần lên, nhờ đó, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 10-12% là có thể đạt được. Thực tế, sức khỏe doanh nghiệp và dòng tiền có liên quan trực tiếp đến TTCK. Hiện nguồn tiền từ môi trường vĩ mô ổn định nhờ các chính sách tài khóa - tiền tệ đang giúp nền kinh tế Việt Nam hưởng lợi. Niềm tin của các nhà đầu tư đã nhen nhóm trở lại khi báo cáo số lượng doanh nghiệp phá sản và doanh nghiệp đăng ký thêm đã được cải thiện. Ngoài ra, nguồn tiền đến từ mức lãi suất thấp hiện nay đang hỗ trợ dòng tiền ngắn hạn, mở ra cơ hội cho kênh đầu tư chứng khoán.

Mặc dù vậy, về dài hạn, bằng nhiều biện pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, trong đó có việc xử lý nợ xấu vẫn là vấn đề trọng tâm để vực dậy doanh nghiệp, khơi thông dòng tiền cho TTCK.

Sẽ mất 3-5 năm để xử lý hết nợ xấu

Việt Nam không chỉ dựa vào công cụ giảm lãi suất là có thể phá được băng tín dụng mà còn cần xử lý nợ xấu, tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và xử lý ngân hàng yếu kém. Riêng trong việc xử lý nợ xấu, với sự ra đời của VAMC, theo kỳ vọng của các chuyên gia kinh tế, VAMC ra đời chỉ xử lý được 1/3 khối nợ xấu, trong khi đó, mục tiêu mà Chính phủ đặt ra là phấn đấu đến năm 2015, sẽ xử lý được cơ bản toàn bộ số nợ xấu hiện nay.

Theo TS Nghĩa, nếu Chính phủ không can thiệp mà để các ngân hàng và doanh nghiệp “tự xử” thì nợ xấu sẽ được xử lý trong 7-10 năm. Như vậy, tín dụng và thị trường bất động sản vẫn đóng băng, do vậy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ chỉ khoảng 3-4%/năm. Nếu dùng nguồn ngoại tệ, sẽ mất 3-5 năm để xử lý, mức tăng trưởng tín dụng nhờ đó có thể đạt 12-14%, đực biệt, tăng trưởng GDP sẽ đạt mức 6-6,2%/năm. Một phương án khác là xử lý nợ xấu hoàn toàn bằng tiền NSNN bằng cách thoái vốn một phần, bán tài sản nhà nước cho các nhà đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài và phát hành trái phiếu chính phủ… thì có thể xử lý dứt điểm nợ xấu trong 2-3 năm và nhanh chóng đạt tăng trưởng tín dụng 14-17%, mức GDP dự đoán có thể lên mức kỷ lục là 8%/năm. Tuy nhiên, vì Thủ tướng quyết tâm xử lý triệt để nợ xấu và đảm bảo các mục tiêu tăng trưởng nên VAMC sẽ có một phần tiền NSNN tham gia đóng góp. Đặc biệt, nguồn vốn xử lý nợ xấu cũng được làm rõ. Theo Đề án Xử lý nợ xấu, tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải chịu trách nhiệm chính về các khoản nợ xấu phát sinh và chia sẻ tổn thất trong việc xử lý nợ xấu. Dù vậy, vốn ngân sách cũng phải chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ xấu bằng cách phát hành các công cụ nợ. Thực tế, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, nợ xây dựng cơ bản cũng được chuyển sang Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC), tức là sử dụng tiền NSNN. Bằng cách này, theo TS Nghĩa, sẽ mất 3-5 năm để Việt Nam xử lý hoàn toàn nợ xấu.

Thêm vào đó, sẽ thêm chức năng bảo lãnh cho vay, tài trợ tài chính trực tiếp, đầu tư vào doanh nghiệp cho VAMC để tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp. Theo nhận định của TS Nghĩa, nếu chuyển nợ từ ngân hàng sang VAMC, tài sản của doanh nghiệp cũng nhờ đó mà được chuyển sang theo nên doanh nghiệp chẳng còn tài sản thế chấp để “vác” đi cầm cố vay ngân hàng, trong khi đó, tại sổ sách của các ngân hàng, doanh nghiệp đó vẫn bị xếp vào nhóm nợ xấu. Như vậy, cho dù có xử lý được nợ xấu thì doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn. Muốn giải quyết nút thắt này, VAMC phải cần có thêm chức năng đứng ra bảo lãnh, đầu tư vào doanh nghiệp, thậm chí là trả lại toàn bộ tài sản doanh nghiệp thế chấp. Có thể thấy, VAMC trong tương lai sẽ có nhiều chức năng giống ngân hàng đầu tư và sau khi hoàn thành “sứ mệnh” xử lý nợ xấu thì sẽ được chuyển sang thành ngân hàng đầu tư.

Riêng đối với vấn đề xử lý ngân hàng yếu kém, quá trình xử lý nợ xấu sẽ khiến các khoản trích lập dự phòng cao, đẩy chi phí hoạt động của các ngân hàng tăng lên, đặc biệt là với các ngân hàng yếu, chi phí này có thể dẫn đến lỗ nặng. TCTD sẽ phải trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ đã bán cho VAMC 20% trong năm đầu tiên, năm thứ 2 tiếp tục trích lập 20% và sau 5 năm sẽ chiết khấu hết toàn bộ khoản nợ. Như vậy, thông qua biện pháp kỹ thuật trích lập dự phòng rủi ro, đánh thẳng vào lợi nhuận ngân hàng bằng cách bắt các NHTM phải giảm lợi nhuận, thậm chí trừ vào vốn tự có để xử lý nợ xấu. Nếu không muốn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, ngân hàng buộc phải đẩy mạnh tín dụng ra thị trường để tăng thêm lợi nhuận bù đắp cho phần trích lập trên.

Câu hỏi đặt ra là liệu trích lập dự phòng có làm tăng lãi suất - đi ngược mục tiêu hạ lãi suất của Chính phủ? Trả lời câu hỏi này, TS. Nghĩa cho rằng quá trình xử lý ngân hàng yếu kém sẽ tạo ra cơ hội cạnh tranh giữa các ngân hàng khỏe và ngân hàng yếu mà ở đó, các ngân hàng yếu sẽ phải chịu sức ép lớn do không thể tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Khi đưa ra tỷ lệ trích lập dự phòng 20% đã rất cân nhắc sức chịu đựng của các ngân hàng bởi theo khảo sát, sức chịu đựng của các ngân hàng trung bình trở lên là 20%, còn đối với các ngân hàng dưới trung bình, nếu không thể “trụ” được với mức trích lập dự phòng này thì khó có thể tồn tại.

(Theo eFinance)

Tìm kiếm các tin, bài đã đưa ngày: 
Bản quyền © Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT.